Bệnh quai bị: Nguyên nhân, biện pháp và cách phòng ngừa bệnh quai bị

Quai bị là bệnh truyền nhiễm cấp tính, làm lây lan trực tiếp qua đường hô hấp. Bệnh có thể  bùng phát thành dịch và gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như: viêm tinh hoàn, viêm buồng trứng, viêm não – màng não, viêm tụy, điếc tai,… Vậy làm cách nào để có thể phòng ngừa bệnh quai bị hiệu quả, an toàn và không gây tái phát, mời bạn cùng tìm hiểu cùng TTH Hospital qua bài viết dưới đây.

1. Bệnh quai bị là gì?

Quai bị là căn bệnh phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Bệnh có tỷ lệ mắc cao ở những vùng dân cư đông đúc, điều kiện sống kém và nơi có khí hậu lạnh. Tại Việt Nam, bệnh quai bị tản phát quanh năm nhưng thường tập trung vào những tháng thu – đông ở các tỉnh miền Bắc và Tây Nguyên, với tỷ lệ mắc bệnh dao động trong khoản 10 đến 40 trường hợp trên 100 ngàn dân.

Tuy đã có vắc xin phòng bệnh quai bị, nhưng do việc tiêm vắc xin dự phòng chưa được phổ cập rộng rãi nên tỷ lệ mắc bệnh quai bị gần như không giảm trong vòng 10 năm trở lại đây. Tỷ lệ tử vong do quai bị rất thấp, nhưng nếu người bệnh chủ quan chậm trễ điều trị có thể khiến bệnh trở nặng và gây nên nhiều biến chứng khó lường.

2. Nguyên nhân gây bệnh quai bị

Quai bị do virus paramyxo gây nên. Đây là chủng virus có khả năng tồn tại lâu ở môi trường bên ngoài cơ thể: từ 30 đến 60 ngày ở nhiệt độ 15 đến 20 độ C, từ 1 đến 2 năm ở nhiệt độ – 25 tới -70 độ C. Tuy nhiên, virus quai bị có thể diệt nhanh chóng ở nhiệt độ trên 56 độ C, dưới ánh sáng mặt trời, với những hóa chất khử khuẩn chứa Clo và các chất khử khuẩn bệnh viện thường dùng.

3. Triệu chứng, dấu hiệu nhận biết bệnh quai bị

Tùy vào tình trạng bệnh, một số người gần như không có triệu chứng, tuy nhiên các triệu chứng thường gặp bao gồm:

  • Sốt, đau mỏi người, đau cơ;
  • Mệt mỏi và chán ăn;
  • Buồn nôn, nôn;
  • Sưng đau tuyến nước bọt, má, cổ hoặc hàm;
  • Một số bệnh nhân có sưng các hạch khác hư tinh hoàn…

Trong các trường hợp hiếm hơn, bệnh quai bị có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Người lớn mắc bệnh tình trạng sẽ nghiêm trọng hơn so với trẻ mắc quai bị. Đáng tiếc hiện nay vẫn chưa có thuốc đặc trị cho bệnh này.

Sau khi nhiễm virus từ 7-14 ngày, người bệnh sẽ có một số triệu chứng như khó chịu, mệt mỏi, chán ăn, sốt, ớn lạnh, cảm giác đau họng và đau bên góc hàm. Sau đó khoảng 3 ngày, tuyến mang tai của bệnh nhân sẽ dần sưng to và giảm dần trong khoảng 1 tuần. Người bệnh có thể sưng 1 hoặc 2 bên mang tai và việc sưng có thể không cùng lúc, tuyến thứ 2 bắt đầu sưng khi tuyến 1 đã giảm sưng.

Vùng sưng của quai bị thường rất đặc trưng, vết sưng thường lan đến má, dưới hàm, đẩy tai lên trên và ra ngoài; trong một số trường hợp đặc biệt có thể lan đến ngực gây phù trước xương ức. Người bệnh sẽ có cảm giác đau ở vùng bị sưng nhưng da ở vùng sưng không nóng và sung huyết.

Trong thời gian này, bệnh nhân sẽ cảm thấy khó khăn khi nói chuyện và ăn uống. Tuy nhiên có 25% bệnh nhân có nhiễm virus mà không có dấu hiệu rõ rệt vô tình trở thành nguồn lây truyền bệnh cho những người xung quanh.

4. Biến chứng thường gặp của bệnh quai bị

Đây là căn bệnh thường ít gặp ở người lớn những biến chứng quai bị ở người lớn lại nặng nề hơn so với trẻ em.

4.1. Biến chứng ở nam giới

Viêm tinh hoàn và mào tinh hoàn: Biến chứng này chiếm khoảng 20-35% nam giới mắc bệnh sau tuổi dậy thì. Biểu hiện tinh hoàn sưng to, mào tinh căng phù lên. Tình trạng viêm này có thể kéo dài từ 3 đến 7 ngày. Sau đó khoảng 50% trường hợp có teo dần tinh hoàn, giảm tỷ lệ sinh tinh và có thể gây vô sinh ở bệnh nhân quai bị.

biến chứng viêm tinh hoàn

4.2. Biến chứng ở nữ giới

Viêm buồng trứng: Biến chứng này chiếm tỷ lệ 7% ở phụ nữ sau tuổi dậy thì.

Biến chứng quai bị ở phụ nữ mang thai: Ở trong 3 tháng đầu thai kỳ, biến chứng này có thể dẫn đến sảy thai hoặc khiến thai nhi dị dạng, ở 3 tháng cuối thai kỳ có thể dẫn đến sinh non hoặc thai chết lưu.

4.3. Một số biến chứng khác có thể xảy ra ở nam và nữ như

Nhồi máu phổi: Khi đó một vùng phổi bị thiếu máu có thể dẫn đến hoại tử mô phổi. Đây là biến chứng có thể xảy ra sau khi bị viêm tinh hoàn do quai bị nguyên nhân là do huyết khối từ tĩnh mạch tiền liệt tuyến.

Viêm tụy: Có tỷ lệ 3% – 7%, là một biểu hiện nặng bệnh. Biểu hiện của viêm tụy thường đau bụng dữ dội, bệnh nhân buồn nôn và có khi huyết áp tụt, ngất xỉu, nguy hiểm nếu không được cấp cứu kịp thời.

Các tổn thương thần kinh: Viêm não có tỷ lệ 0,5%, bệnh nhân có các hiện tượng như: người bệnh thường xuyên bứt rứt, khó chịu, tính tình thay đổi, thường xuyên đau đầu, mệt mỏi, rối loạn thị giác, tri giác, một số trường hợp đầu bệnh nhân to lên do não úng thuỷ. Tổn thương thần kinh sọ não dẫn đến nhiều hậu quả nguy hiểm về thể chất và tinh thần cho người bệnh, người bệnh có thể bị điếc, viêm tủy sống cắt ngang, giảm thị lực…

Bên cạnh đó người bệnh có thể có một số biến chứng như viêm cơ tim, viêm phổi, viêm thanh phế quản, xuất huyết giảm tiểu cầu, viêm phổi…

5. Chẩn đoán, xét nghiệm bệnh quai bị

Chẩn đoán quai bị thường dựa vào triệu chứng lâm sàng, trong một số trường hợp cần thiết có thể làm một số xét nghiệm phân biệt.

Đối với bệnh ở thể nhẹ khi đó triệu chứng viêm tuyến nước bọt không rõ ràng cần được khám và điều trị phân biệt với các bệnh sốt nhiễm virus ở đường hô hấp trên.

Đối với quai bị có viêm tuyến nước bọt điển hình cần được phân biệt với các bệnh có một số biểu hiện tương tự như bệnh viêm mủ tuyến mang tai gây nên do vi khuẩn, có triệu chứng sưng nóng, đỏ, đau, có mủ chảy ra từ đầu ống Stenon; viêm phì đại tuyến mang tai hoặc sỏi tuyến nước bọt mang ta, hay viêm hạch góc hàm dưới do nhiễm khuẩn ở khu vực xung quanh như răng, hàm, họng.

Xét nghiệm: Nhìn chung đối với bệnh quai bị việc xét nghiệm thường ít khi được sử dụng trong chẩn đoán vì bệnh có những dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng rất điển hình. Các kết quả xét nghiệm thường được sử dụng trong những trường hợp cực kỳ cần thiết hoặc sử dụng trọng nghiên cứu.

6. Phương pháp điều trị bệnh quai bị

Hiện nay, chưa có thuốc để điều trị đặc hiệu bệnh quai bị, chủ yếu vẫn là điều trị các triệu chứng kết hợp chăm sóc người bệnh và phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra của bệnh: 

  • Đầu tiên, khi người bệnh có dấu hiệu đau sưng ở vùng mang tai cần đến ngay các cơ sở y tế để được bác sĩ khám và chẩn đoán phân biệt bệnh. Một số bệnh gây viêm tuyến nước bọt không nhất thiết gây ra do virus quai bị mà còn gây ra bởi các vi khuẩn và virus khác;
  • Nếu có các triệu chứng sốt hay đau vùng mang tai, bệnh nhân có thể sử dụng các thuốc giảm đau, hạ sốt để uống;
  • Người bệnh cần uống nhiều nước để bù nước và các chất điện giải, có thể uống Oresol để bổ sung nhanh hơn;
  • Để giảm bớt sưng đau ở tuyến nước bọt, bạn có thể chườm mát;
  • Không nên ăn các thực phẩm quá cứng, thức ăn nhiều gia vị cay nóng hoặc chua. Nên ăn những thức ăn lỏng, mềm, dễ ăn, dễ nuốt như cháo hoặc súp;
  • Không tuỳ tiện dùng thuốc kháng sinh, chỉ dùng kháng sinh khi có chỉ định của bác sĩ và khi nghi ngờ có bội nhiễm;
  • Người bệnh cần hạn chế vận động mạnh, nên nghỉ ngơi thoải mái, tránh tiếp xúc với người trong gia đình và người xung quanh để hạn chế lây nhiễm;
  • Với bệnh nhân nam nếu có các dấu hiệu viêm tinh hoàn hay ở bệnh nhân nữ có dấu hiệu viêm buồng trứng vần được theo dõi chặt chẽ ở bệnh viện, tránh để lại những di chứng đáng tiếc ảnh hưởng đến sức khoẻ về sau.

7. Phòng ngừa bệnh quai bị

Quai bị mặc dù là bệnh lành tính nhưng lại có nhiều biến chứng nặng nề với sức khỏe. Đặc biệt bệnh chưa có thuốc đặc trị, vì vậy phòng bệnh được xem là phương án tối ưu nhất để bảo vệ sức khoẻ.

Người dân cần được nâng cao ý thức về phòng ngừa cũng như biết tác hại của bệnh gây nên, đặc biệt những biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản. Nâng cao tầm quan trọng của vắc xin, các biện pháp vệ sinh cá nhân, môi trường, các nhận biết dấu hiệu bệnh để báo với các cơ quan y tế để phát hiện sớm tránh bùng phát thành cụm dịch.

Biện pháp dự phòng chủ động có hiệu quả nhất đối với bệnh quai bị là sử dụng vaccine. Vaccine quai bị có thể được sử dụng sớm cho trẻ từ 12 tháng tuổi, hiện nay tại Việt Nam thường dùng là vaccine kết hợp sởi – quai bị – rubella. Các vaccine được nghiên cứu an toàn và có hiệu lực cao, bảo vệ đạt đến trê 95% và miễn dịch có thời hạn lâu bền. 

Bên cạnh đó để phòng quai bị cần lưu ý một số biện pháp như:

  • Tuyên truyền mở rộng về việc nâng cao ý thức vệ sinh môi trường sống, vệ sinh khu vực nhà ở, nhà trẻ, trường học, khu vực ký túc xá, khu vực đông dân cư… với tiêu chí mở thông thoáng khí ở môi trường ở, khu vực ở và làm việc cần nhiều ánh sáng, sạch sẽ và hạn chế bụi bẩn;
  • Có thói quen rửa thay thường xuyên với xà bông;
  • Khu vực nhà ở, công ty, trường học… sạch sẽ, chú trọng vệ sinh cá nhân sạch sẽ, ngăn ngừa các bệnh truyền nhiễm;
  • Khi có người nhiễm bệnh cần được cách ly và điều trị tại nhà hoặc cơ sở y tế theo chỉ định của bác sĩ để tránh lây nhiễm cho người xung quanh, khử khuẩn khu vực có người nhiễm bệnh;
  • Khi nghi ngờ mắc bệnh cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được thăm khám và điều trị, đặc biệt những trường hợp nghi ngờ có biến chứng không được chần chừ mà đến ngay bệnh viện để được xử trí kịp thời.

Trên đây là những thông tin cần thiết về bệnh quai bị để bạn đọc có phương pháp điều trị cũng như phòng ngừa đúng cách tránh để lại biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe. Nếu quý khách có thắc mắc hay cần tư vấn về các loại bệnh khác hãy nhấc máy lên và gọi cho hệ thống bệnh viện của TTH để được giải đáp nhanh nhất.

- Bệnh viện Đa khoa TTH Vinh

Địa chỉ: 105 Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, TP. Vinh, tỉnh Nghệ An

Hotline: 0948.956.622

Website: benhvientthvinh.vn

- Bệnh viện Đa khoa TTH Quảng Bình

Địa chỉ: Số 99, đường Điện Biên Phủ, Phú Hải, TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

Hotline: 0967.260.115

Website: benhvientthquangbinh.vn

- Bệnh viện Đa khoa TTH Hà Tĩnh

Địa chỉ: Số 01 Ngô Quyền, Thạch Trung, TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh

Hotline: 0912.555.115

Website: benhvientthhatinh.vn

Bệnh Lý Thường Gặp